Tác giả: Nguyễn Xuân Thủy
Của Hội Mỹ thuật Hà Nội tháng 3 năm 2026
Thành phần tham gia cuộc đi thực tế: gồm 30 Người, Là họa sĩ đã có nhiều thành tích và cống hiến cho Hội Mỹ thuật Hà Nội.
1. Mục đích của chuyến đi:
Thực hiện chương trình kế hoạch hoạt động nghệ thuật năm 2026 của Hội Mỹ thuật Hà Nội, ban chấp hành Hội Mỹ thuật Hà nội đã ra Đề xuất số:02/ĐX-HMT Ngày /03/2026 tổ chức chuyến đi thực tế sáng tác 02 ngày 01 đêm, Tại Lạng Sơn để lấy tài liệu làm tư liệu về làm đề tài sáng tác cho chương trình hoạt động nghệ thuật năm 2026.
2. Quá trình đi thực tế, chụp ảnh, ghi chép lấy tư liệu Di tích Các điểm tại Lạng Sơn
Đến với Bắc Ninh, một trong những điểm du lịch không thể bỏ qua đó là Khu du lịch tâm linh sinh thái Tây Yên Tử. Đây là điểm đến cuối cùng trong hành trình Tour du lịch tâm linh theo con đường bộ hành hoằng dương Phật pháp của Phật Hoàng Trần Nhân Tông và các đồ dệ qua những điểm chùa, tháp dọc sườn tây dãy dẫy núi Tây Yên Tử
Khi nói tới Tây Yên Tử phải nói tới dòng thiền Trúc Lâm. Thiền phái Trúc Lâm là dòng thiền mang triết lý thuần Việt, do Phật Hoàng Trần Nhân Tông sáng lập ở thế kỷ XIII. Thiền phái Trúc Lâm là linh hồn của hệ thống non thiêng Yên Tử, nó trở thành niềm tự hào của mỗi người dân đất Việt. Hành hương về Tây Yên Tử, du khách vừa được chiêm bái thắng tích tôn giáo nổi tiếng và cảm nhận vẻ đẹp bình yên, thơ mộng của vùng đất Bắc Ninh. Núi Yên tử nằm trên cánh cung Đông Triều ôm gọn vùng đông bắc Việt Nam, sườn đông chủ yếu thuộc tỉnh Quảng Ninh, sườn tây thuộc các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam và Yên Dũng tỉnh Bắc Ninh. Hiện tại khu vực Tây Yên tử còn lưu lại nhiều di tích, công trình lịch sử-văn hóa liên quan đến tôn giáo, gắn liền với quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, nhất là vào thời Lý-Trần. Với hệ thống các chùa tháp, di tích lịch sử-văn hóa và sự kỳ vĩ của núi rừng trùng điệp, thảm thực vật và nhiều loài động vật phong phú đã tạo nên một Yên Tử đầy tiềm năng. Cùng với Đông Yên Tử của Quảng Ninh, Tây Yên Tử Bắc Ninh được phối hợp, kết nối thành quần thể danh thắng Yên Tử thống nhất, tạo điều kiện cho phát triển du lịch, phát huy các di sản văn hóa mà cha ông ta để lại.
Khu du lịch Tây Yên Tử được khởi công xây dựng năm 2014 và đưa vào khai thác giai đoạn I năm 2019. Khu du lịch được ưu ái nằm bên khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử với hàng nghìn hecta rừng nguyên sinh cùng nhiều loài động vật hoang dã. Đây chính là lợi thế trong việc mang đến cho du khách cả nước những trải nghiệm khác biệt trong suốt quá trình tham quan, hành hương về vùng đất Phật. Quy hoạch tổng thể của KDL được chia thành 02 phân khu chức năng: phân khu tham quan sinh thái – tâm linh và phân khu nghỉ dưỡng sinh thái – giải trí. Phân khu tham quan sinh thái – tâm linh gồm các hạng mục chính như: quảng trường trung tâm, vườn ngũ hành, đồi vô cực – hệ thống 10 bức tượng tái hiện hành trình cuộc đời Phật hoàng, tuyến cáp treo, chùa Hạ và chùa Thượng. Ngoài ra, ở phân khu này còn có một số công trình dịch vụ khác như bãi đỗ xe, hồ điều hòa, nhà hàng ven suối…
Lộ trình tham quan Khu du lịch của quý du khách sẽ bắt đầu tại khu vực quảng trường trung tâm. Công trình nổi bật và đồng thời là biểu tượng của Khu du lịch là công trình tái hiện Hoàng thành Thăng Long dưới thời nhà Trần. Công trình này được xây dựng theo thiết kế mẫu của Hoàng thành Thăng Long tại Hà Nội, gồm 3 tầng: tầng 1 là khu vực tổ chức các hoạt động triển lãm, trưng bày; tầng 2 là khu vực làm việc và tiếp khách của Ban Quản lý KDL; tầng 3 là sân ngắm cảnh và chụp ảnh. Đứng trên tầng 3, du khách có thể nhìn bao quát toàn bộ sân quảng trường phía trước cùng với đó là vườn tứ đại (4 yếu tố cấu thành nên vật chất trong quan điểm Phật giáo: đất, nước, gió, lửa) và biểu tượng Mandala Phật giáo cỡ lớn tại sân quảng trường phía sau và dấu tích bàn chân Phật. Bên cạnh khu vực quảng trường trung tâm là đồi vô cực và 10 bức tượng tái hiện hành trình cuộc đời của Phật hoàng Trần Nhân Tông. Sở dĩ gọi đồi vô cực là bởi trên đồi cỏ này là 1 vòng vô cực không có điểm đầu cũng như không có điểm cuối. Theo tinh thần Phật giáo, vòng vô cực thể hiện sự xoay vòng liên tục của con người giữa những cảm xúc hỉ-nộ-ái-ố, giữa những suy nghĩ, lo lắng về cuộc sống mà không có lối thoát. Và Phật hoàng Trần Nhân Tông lúc chưa xuất gia tu hành cũng không đứng ngoài vòng vô cực này. Từ vòng vô cực, du khách đi theo lối đi bằng đá xanh để tham quan 10 bức tượng lớn tái hiện cuộc đời của Phật hoàng Trần Nhân Tông từ khi sinh ra đến khi lên ngôi hoàng đế rồi xuất gia lên Yên Tử tu hành và hóa Phật tại đây. Thông qua các bức tượng này, du khách sẽ một lần nữa được tìm hiểu về các mốc lịch sử hào hùng của dân tộc trong thời kỳ kháng chiến chống quân xâm lược phương Bắc, đồng thời được tìm hiểu một cách đầy đủ mà ngắn gọn, súc tích về hành trình tu tập và sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử của Phật hoàng Trần Nhân Tông.
Sau khi kết thúc tham quan khu vực quảng trường trung tâm và đồi vô cực, du khách lên xe điện di chuyển sang tham quan chùa Hạ. Chùa Hạ có tên chữ là Phật Quang thiền tự, từ ngoài vào lần lượt là: Cổng tam quan, sân chùa, tòa bái đường, tòa thiêu hương, chính điện, nhà tổ… và nổi bật là công trình tháp chuông Hoa Nghiêm cao 36m, tổng diện tích 8.000m2, được thiết kế mô phỏng đoá Sen đang nở giữa hồ nước thể hiện cho sự thanh tịnh, sáng suốt trong giáo lý nhà Phật. Đứng tại khu vực chùa Hạ, du khách có thể nhìn bao quát quan cảnh thị trấn Tây Yên Tử, khu vực cầu cảnh quan, nhà ga cáp treo và tuyến cáp treo chạy lên đỉnh núi. Vào những ngày thời tiết quang mây, du khách có thể nhìn thấy chùa Đồng tọa trên mỏm núi cao nhất của dãy Yên Tử.
Tiếp theo hành trình, quí khách sẽ đi bộ qua cầu cảnh quan bắc qua dòng suối Nước trong để sang nhà ga đi của tuyến cáp treo. Khác với bên Đông Yên Tử (Quảng Ninh), khi đi từ phía Tây Yên Tử, du khách chỉ cần đi một chặng cáp treo duy nhất để lên đỉnh núi. Tuyến cáp treo của Tây Yên Tử có độ dài 2,1km có thống 45 cabin phục vụ chuyên chở du khách. Trong quá trình di chuyển từ chân núi lên, du khách được ngắm trọn vẹn cảnh quan của Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử.
Lên đến đỉnh núi, du khách sẽ có cảm giác hoàn toàn khác bởi không khí ở trên núi vô cùng mát mẻ và trong lành, cùng với đó là cảnh quan núi rừng hùng vĩ. Từ nhà ga cáp treo, du khách đi bộ khoảng 200m theo lối bậc đá sẽ đến cổng tam quan của chùa Thượng (hay còn gọi là Linh Thông thiền tự). Tam quan chùa Thượng gồm 2 tầng, tầng trên là gác chuông. Từ tam quan, du khách đi theo lối đi ở 2 bên cạnh để lên chính điện. Chính điện chùa Thượng được xây dựng theo kiến trúc chữ Đinh, phần lớn được dựng từ gỗ, lợp ngói hoa sen. Thời tiết nhiều sương gió, mây mù đã tạo cho chùa Thượng một vẻ cổ kính, trầm mặc và thanh tịnh. Trong chính điện chùa Thượng, phía bên ngoài là ban thờ Tam Bảo, Đức ông, Đức Thánh hiền và 2 Hộ pháp. Bên trong là ban thờ 03 vị sư tổ đầu tiên của Thiền phái Trúc Lâm: Phật hoàng Trần Nhân Tông, tôn giả Pháp Loa và tôn giả Huyền Quang. Sau khi thắp hương lễ Phật, du khách có thể nghỉ ngơi trước sân chùa, ngắm cảnh thiên nhiên hùng vĩ của núi rừng Yên Tử.
Từ chùa Thượng du khách sẽ đi theo những bậc đá xuyên qua khu vực rừng trúc mang tịch mịch để đến với chùa Đồng trên đỉnh non thiêng Yên Tử có độ cao 1.068 mét so với mực nước biển. Vào những ngày trời quang mây, nắng ráo, du khách có thể nhìn thấy toàn bộ khu vực thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh và khu vực cửa biển. Vào những ngày thời tiết lạnh hơn bên dưới chân núi là những thung lũng phù vân bồng bềnh, huyền ảo như trong xứ sở thần tiên..../.
Lạng Sơn - vùng đất giàu truyền thống cách mạng, luôn giữ vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của đất nước.
Lạng Sơn là vùng đất cửa ngõ “phên dậu,” địa đầu của Tổ quốc với lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, giàu truyền thống cách mạng, luôn giữ vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của đất nước.
Trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, đồng bào các dân tộc tỉnh Lạng Sơn đã cùng đồng bào cả nước anh dũng, kiên cường chiến đấu bảo vệ nền độc lập của nước nhà, lập nên nhiều chiến công hiển hách, ghi vào lịch sử những trang vàng chói lọi.
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi, biên giới, thuộc vùng Đông Bắc với diện tích tự nhiên 8.310,09km2, hẹp nhất là thành phố Lạng Sơn 77,94km2, rộng nhất là huyện Đình Lập 1.189,56km2.
Lạng Sơn nằm ở vị trí đường quốc lộ 1A, 1B, 4A, 4B, 279 đi qua, là điểm nút giao lưu kinh tế với các tỉnh phía Tây là Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn, phía Đông là tỉnh Quảng Ninh, phía Nam là Bắc Giang và phía Bắc tiếp giáp với Khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây, Trung Quốc, với 2 cửa khẩu quốc tế (cửa khẩu đường bộ Hữu Nghị và cửa khẩu đường sắt Đồng Đăng), 1 cửa khẩu chính Chi Ma và 9 cửa khẩu phụ.
Lạng Sơn là điểm đầu tiên của Việt Nam trên 2 tuyến hành lang kinh tế Nam Ninh (Trung Quốc)-Lạng Sơn-Hà Nội-Hải Phòng và Lạng Sơn-Hà Nội-Thành phố Hồ Chí Minh-Mộc Bài (tham gia hành lang xuyên Á: Nam Ninh-Singapore), là cửa ngõ quan trọng nối Trung Quốc và các nước ASEAN. Lạng Sơn cách Nam Ninh là thủ phủ của Quảng Tây, Trung Quốc khoảng 230km, cách thủ đô Hà Nội khoảng 150km.
Các phương tiện xuất nhập khẩu hàng hóa chờ thông quan tại cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị (Lạng Sơn). (Ảnh: Quang Duy/TTXVN)
Lạng Sơn có địa hình phức tạp, chủ yếu là núi thấp và đồi chiếm hơn 80%, độ cao trung bình 252 m so với mặt nước biển, nơi thấp nhất là 20m ở phía nam huyện Hữu Lũng và nơi cao nhất là núi Mẫu Sơn 1.541m. Khu du lịch Mẫu Sơn được quy hoạch là khu du lịch Quốc gia, cách thành phố Lạng Sơn 31km về phía Đông.
Dân số Lạng Sơn là 813.978 người tính đến ngày 1/4/2024 theo kết quả điều tra dân số giữa kỳ năm 2024, đứng thứ 53 cả nước.
Khi nước Văn Lang - nhà nước sơ khai đầu tiên của Việt Nam được thành lập, Lạng Sơn thuộc bộ Lục Hải. Thời Bắc thuộc, Lạng Sơn được xếp vào quận Giao Chỉ, sau đó là Giao Châu. Thời Đinh, nước Đại Cồ Việt ra đời, Lạng Sơn được đặt làm đạo. Thời Lý, hệ thống hành chính được tổ chức quy củ với các đơn vị lộ, phủ, châu, vùng đất Lạng Sơn chủ yếu thuộc Lạng Châu. Năm 1225, nhà Trần thành lập, chia cả nước thành 12 lộ, phủ. Vùng đất Lạng Sơn thuộc lộ Lạng Giang, sau đổi thành phủ Lạng Sơn. Đến năm 1397, phủ Lạng Sơn được đổi thành trấn Lạng Sơn.
Năm 1407, nhà Minh xâm lược nước ta. Đất nước rơi vào ách đô hộ của phong kiến phương Bắc. Sau khi xâm chiếm nước ta, nhà Minh đổi Đại Việt thành Giao Chỉ, chia thành 17 phủ. Lạng Sơn trở thành một trong 17 phủ của Giao Chỉ. Sau thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống quân xâm lược nhà Minh, năm 1428, nhà Lê chia đất nước thành 4 đạo: Đông, Nam, Tây, Bắc. Trấn Lạng Sơn được xếp vào Bắc đạo.
Năm 1466, vua Lê Thánh Tông chia nước thành 12 thừa tuyên, trấn Lạng Sơn được đổi thành thừa tuyên Lạng Sơn. Trong thời kỳ Lê Trung Hưng (1533-1789) và nhà Tây Sơn, các đơn vị hành chính cơ bản vẫn được giữ nguyên, riêng châu Lộc Bình của trấn Lạng Sơn đổi tên thành châu Lộc Bằng (do kiêng húy tên của vua Quang Trung).
Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), thừa tuyên Lạng Sơn được đổi thành tỉnh Lạng Sơn gồm 1 phủ và 7 châu. Đến năm Minh Mệnh thứ 17 (1836), nhà Nguyễn tách 2 châu (Văn Uyên, Thoát Lãng), 2 huyện Văn Quan, Thất Khê (Thất Nguyên cũ) để thành lập thêm một phủ mới là phủ Tràng Định.
Sau khi đánh chiếm đất nước ta, năm 1888, thực dân Pháp xếp tỉnh Lạng Sơn vào quân khu 12. Tháng 8/1891, thực dân Pháp bỏ quân khu để thành lập các đạo quan binh. Lạng Sơn là nơi đóng thủ phủ của đạo quan binh II, gồm 2 phủ (phủ Tràng Khánh và phủ Tràng Định), 2 huyện (Yên Bác, Văn Quan) và 4 châu (Lộc Bình, Ôn Châu, Thoát Lãng, Văn Uyên).
Ngày 20/6/1905, thực dân Pháp lại bỏ đạo quan binh và xác lập lại tên gọi cũ là tỉnh Lạng Sơn. Đầu thế kỷ XX, tỉnh Lạng Sơn có 1 phủ (Tràng Định) và 9 châu (Cao Lộc, Lộc Bình, Châu Ôn, Văn Uyên, Thoát Lãng, Điềm He, Bình Gia, Bắc Sơn, Bằng Mạc). Tháng 8/1939, thực dân Pháp cho đổi một số châu thành phủ, tỉnh Lạng Sơn lúc này có 3 phủ: Tràng Định, Văn Uyên, Cao Lộc, các châu còn lại vẫn giữ nguyên như cũ.
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Lạng Sơn là 1 trong 17 tỉnh thuộc Liên khu Việt Bắc. Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, địa giới hành chính tỉnh Lạng Sơn có một số thay đổi, tháng 7/1947, Khu ủy 12 quyết định tạm thời chuyển giao huyện Lộc Bình của tỉnh Lạng Sơn cho tỉnh Hải Ninh (nay là tỉnh Quảng Ninh) quản lý; ngày 07/6/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 48/SL tách huyện Lộc Bình (tỉnh Hải Ninh) sáp nhập về Lạng Sơn. Lúc này, tỉnh Lạng Sơn có 11 huyện, thị: Bằng Mạc, Bắc Sơn, Bình Gia, Cao Lộc, Điềm He, Lộc Bình, Ôn Châu, Thoát Lãng, Văn Uyên, Tràng Định và thị xã Lạng Sơn
Sau khi miền Bắc được giải phóng (1954), ngày 1/7/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 268/SL thành lập Khu tự trị Việt Bắc gồm các tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên và huyện Hữu Lũng của tỉnh Bắc Giang.
Ngày 29/7/1956, nhân việc thành lập khu tự trị Việt Bắc, theo Quyết định của Chính phủ, Ủy ban hành chính tỉnh Bắc Giang đã tiến hành bàn giao huyện Hữu Lũng từ tỉnh Bắc Giang về tỉnh Lạng Sơn.
Ngày 16/12/1964, huyện Điềm He cùng 6 xã của huyện Bằng Mạc hợp nhất thành huyện Văn Quan; huyện Ôn Châu cùng 8 xã còn lại của huyện Bằng Mạc hợp nhất thành huyện Chi Lăng; huyện Văn Uyên và huyện Thoát Lãng hợp nhất thành huyện Văn Lãng. Lúc này, tỉnh Lạng Sơn có thị xã Lạng Sơn và 9 huyện.
Tháng 4/1976, tỉnh Lạng Sơn hợp nhất với tỉnh Cao Bằng thành tỉnh Cao Lạng.
Ngày 29/12/1978, kỳ họp thứ tư Quốc hội khóa VI ban hành Nghị quyết tách tỉnh Cao Lạng thành hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn, sáp nhập huyện Đình Lập của tỉnh Quảng Ninh vào tỉnh Lạng Sơn. Từ đây, tỉnh Lạng Sơn có 10 huyện và 1 thị xã: Bắc Sơn, Bình Gia, Cao Lộc, Lộc Bình, Hữu Lũng, Chi Lăng, Văn Quan, Văn Lãng, Đình Lập, Tràng Định và Thị xã Lạng Sơn.
3. Kết quả chuyến đi
+ Chuyến đi đã được ban tổ chức hội Mỹ thuật, chuẩn bị rất cẩn thận và chu đáo, chụp và ký họa được nhiều nét đẹp của Tây Yên Tử và vẻ đẹp của sứ Lạng.
+ Cả đoàn đã có chuyến đi rất bổ ích và đã ghi chép được nhiều tư liệu quý để làm hành trang cho việc sáng tác những tác phẩm nghệ thuật phục vụ cho chương trình kế hoạch hoạt động năm 2026 - 2027 của Hội Mỹ thuật Hà Nội.
Trên đây là một số cảm nghĩ và ghi chép của tôi, về chuyến đi thực tế sáng tác của anh em nghệ sĩ hội Mỹ thuật Hà Nội, 02 ngày tại tỉnh Lạng Sơn đã thành công tốt đẹp. Hi vọng triển lãm Mỹ thuật Thủ đô năm 2026, anh em sẽ có nhiều tác phẩm có chất lượng nghệ thuật cao, và ý nghĩa./.