Tác giả: Nguyễn Thị Kim Oanh (sưu tầm)
Sơn mài Việt Nam có lịch sử lâu đời gắn liền với đời sống và mỹ thuật cổ của người Việt. Lịch sử sơn mài Việt Nam là một dòng chảy mà trong đó có nhiệt huyết của nhiều nhiều thế hệ từ những người nghệ nhân và nghệ sĩ, đã góp phần để làm nên một nền nghệ thuật tranh sơn mài Việt Nam hiện đại. Triệu Khắc Tiến là người đầu tiên của Việt Nam lấy bằng Tiến sỹ tại Đại học Nghệ Thuật Tokyo Nhật Bản để tiếp tục quay về Việt Nam chuẩn hóa kỹ thuật sơn mài trên chất liệu Sơn Ta truyền thống của người Việt.
Cảm hứng Phương Đông trong những tác phẩm tranh sơn mài của họa sĩ Triệu Khắc Tiến được thể hiện rõ nét nhất ở quan điểm mỹ học của anh trên tác phẩm. Màu sắc tương phản nóng - lạnh nhưng đa dạng và biến chuyển, mang đậm tính Á Đông linh hoạt. Đối tượng tạo hình trong tranh của họa sĩ cũng thường mang tính trừu tượng. Đó là sự đan cài nhiều cảm hứng từ vẻ đẹp của các nền văn hóa Phương Đông. Như họa sĩ Lương Xuân Đoàn nhận xét thì trong đó ta có thể bắt gặp: sự tinh tế của vườn thiền Nhật Bản và mảnh vườn xanh trong tâm hồn Việt, nét đẹp ngẫu hứng của thơ Haiku hay thiền họa…
Bộ ba “Phái nữ” nằm trong triển lãm “Câu chuyện Phương Đông” của họa sĩ Triệu Khắc Tiến được ra mắt năm 2022 với sự giới thiệu của Trung tâm Giao lưu Văn hóa Nhật Bản - một tổ chức thuộc chính phủ Nhật đã từng giới thiệu nhiều họa sỹ danh tiếng. “Phái nữ” trên tranh sơn mài của Triệu Khắc Tiến được thể hiện với bảng màu biến thiên đa dạng. Có thể thấy cảm hứng kỳ ảo phương Đông của họa sĩ thể hiện rõ nét qua ánh sáng, màu sắc và hình tượng nhân vật. Người phụ nữ trong mỹ cảm của họa sĩ dường như là sự tổng hòa của những vẻ đẹp thuần khiết kiêu sa trong văn hóa Nhật, sự duyên dáng và nhuần nhị của vẻ đẹp Việt và ẩn tàng chung trong vẻ đẹp văn hóa phương Đông kỳ diệu. Cùng với “Câu chuyện Phương Đông”, bộ tranh là dấu mốc trong sự nghiệp nghiên cứu và sáng tác của họa sĩ Triệu Khắc Tiến suốt 20 năm gắn bó với chất liệu sơn mài truyền thống
Điều đặc sắc của tranh Hàng Trống nói riêng và tranh dân gian Việt Nam nói chung đó là:
Trước kia, mọi người tưởng tranh chỉ nhằm giới thiệu nét đẹp tố nữ với vẻ đẹp mượt mà thanh cao của mỗi nàng, vừa sinh động, vừa duyên dáng. Thiếu nữ với mắt phượng mày ngài, cổ cao ba ngấn, tóc đuôi gà, đây là vẻ đẹp tiêu chuẩn của thiếu nữ một thời. Nghệ nhân vẽ tranh chỉ mượn các đạo cụ biểu diễn để tạo dáng cho các nàng thêm sinh động hơn.
Quan sát kĩ ta thấy: Các thiếu nữ đang ở tư thế hòa tấu. Bốn cô có chiều cao không bằng nhau từ thấp đến cao: Cô cầm quạt thấp nhất, đến cô cầm sênh tiền, rồi đến cô thổi sáo và cô gẩy đàn là cao nhất. Theo tìm hiểu với bốn đạo cụ này thì tiếng đàn cho âm sắc cao nhất, tiếp đến là tiếng sáo, rồi đến tiếng lách cách của sênh, sau cùng là tiếng phất gió nhẹ nhất của quạt. Đây chính là điểm mấu chốt của lối vẽ tranh mượn hình gửi ý của các nghệ nhân thời xưa. Họ lấy chiều cao số học để biểu lộ các cung bậc cao thấp của âm thanh, từ đó ca ngợi vẻ đẹp âm thanh của các đạo cụ này. Chính vì thế, Tố nữ đích thực là bức tranh siêu thực, ở đây vẻ đẹp không nằm ở chỗ tả người mà ý tưởng của nghệ nhân làm tranh tứ bình Tố nữ chính là ở điểm sâu sắc đó.
Vạn vật trong thiên nhiên đều ẩn chứa những vẻ đẹp bí ẩn, từ mầm hoa mới chớm nở trên cành cho tới chiếc lá héo khô đã đáp mặt đất. Cảm nhận được sức cuốn hút ấy, nghệ sĩ trẻ Vicky Rawlins, một trong hai họa sĩ của nhóm làm đồ thủ công Sister Golden đã tạo nên bao bức tranh tuyệt vời từ hoa và lá cây.